Hiển thị các bài đăng có nhãn thai-cuc-quyen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thai-cuc-quyen. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Gia đình họ Trần và Thái cực quyền

Vào cuối thế kỷ 14, một người nông dân tên Trần Bốc (Chen Bu), tới cư ngụ tại một làng nhỏ thuộc huyện Ôn (Wenxian), tỉnh Hà Nam, phía Bắc sông Hoàng Hà (Huanghe). Ông là người tỉnh Sơn Tây (Shanxi), và là tổ của gia đình họ Trần. Làng mà ông tới cư ngụ sau đó được gọi là Trần Gia Câu (Chenjia Gou).

Theo vài người trong gia đình họ Trần, môn võ bắt nguồn từ Trần Bốc, nhưng nhiều học giả khác nghĩ là môn võ chỉ xuất phát từ Trần Vương Đình (Chen Wangting)...

Trần Vương Đình (1600-1680), thế hệ thứ 9, thuộc gia đình điền chủ và gia đình ông đã biết sử dụng vài môn binh khí.

Quyển "Trần thị gia phổ" (Chenshi Jia Pu) có ghi lại: "Ông sinh vào cuối triều đại nhà Minh (Ming), đầu triều đại nhà Thanh (Qing), danh tiếng tại tỉnh Sơn Đông (Shandong), đánh đuổi quân cướp, và là người đầu tiên đem vào gia đình ông môn quyền, đao và thương, ông thường sử dụng cây đại đao (Dadao)".

Theo "Hoài Thanh huyện chí" (Huaiqingxian Zhi), "Ôn huyện chí" (Wenxian Zhi), và "An Bình huyện chí" (Anpingxian Zhi), vào 1641, Trần Vương Bình chỉ huy dân quân của huyện Ôn. Những tài liệu này dẫn chứng là Trần Vương Bình phải biết chút ít võ thuật.

Theo gia đình họ Trần, môn võ này chỉ truyền trong gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trước thế hệ 14 vào thế kỷ thứ 18, theo "Trần thị quyền giới phổ" (Chenshi Quan Xie Pu), còn lưu lại Trần Gia Câu, môn Thái cực quyền thời đó gồm có: Đầu sáo quyền (Toutaoquan), còn được gọi Thập tam thức (Shisan Shi); Nhị sáo quyền (Ertaoquan); Tam sáo quyền (Santaoquan) còn được gọi là Đại tứ sáo truỳ (Dasitaochui); Tứ sáo quyền (Sitaoquan) còn được gọi là Hồng quyền (Hongquan), hay Thái tổ hạ nam đường (Tauzu Xia Nantang); Ngũ sáo quyền (Wutao quan); Trường quyền (Chang quan) còn được gọi là Nhất bách linh bát thức (Yibailingba Shi); Pháo truỳ (Paochui); Đoản đả (Duanda); Tán thủ (Sanshou); Kiều thủ (Jishou); Lược thủ (Lueshou); Sử thủ (Shushou), Tam thập lục cổn diệt (Sanshiliu Gunyue); Kim cang thập bát noa pháp (Jingang Shiba Nafa); Đơn đao (Dandao); Song đao (Shuangdao); Song kiếm (Shuangjian); Song giản (Shangjian); Bát thương (Baqiang); Bát thương đối thích pháp (Baqiang Dui Cifa); Thập tam thương (Shisanqiang); Hoàn hậu Trương Dực Đức tứ thương (Huan Hou Zhang Tesi qiang); Nhị thập tứ thương (Ershisiqiang Lianfa); Bàng là bảng (Panluobang) Xuân thu đao (Chungqiuđao); Bàng la bảng luyện pháp (Panluobang Lianfa);Tuyền phong côn (Xuanfenggun); Đại chiến phác liêm (Dazhan polian).

Đến thế hệ thứ 14 vào thế kỷ thứ 19, môn võ gia truyền của gia đình họ Trần được chia thành hai nhánh chính. Một chỉ nhánh xuất từ Trần Sở Nhạc (Chen Suoyue); truyền bởi Trần Hữu Bản (Chen Youben) và Trần Hữu Hằng (Chen Suoyue); và một chi nhánh khác xuất từ Trần Trường Hưng (Chen Changxing). Từ ba đại võ sư của thế kỷ thứ 19 này, phát sinh ra hai chi nhánh còn lưu truyền hiện nay, chi nhánh Tiểu giá (Xiaojia) và Đại giá (Dajia). Theo truyền thuyết, ba quyền sư này đã tóm gọn lại quyền giá, từ bảy bài quyền xưa lúc đó chỉ còn lại hai bài: Đệ nhất lộ (Diyliu) và Pháo Truỳ.

Trần Trường Hưng thời đó có dạy ngoài gia đình: hai học trò được biết nhất là Dương Lộ Thiền (Yang Luchan) và Lý Bá Khôi (Li Bokui), Dương Lộ Thiền là người thành lập chi phái Dương gia phái Thái cực quyền. Từ chi nhánh Tiểu Gía phát xuất chi nhánh Triệu Bảo Gía của Trần Thanh Bình (Chen Qing Ping) (1795-1868). Còn chi nhánh Đại Gía vào thế kỷ thứ 20 chia ra hai chi phái: Bảo Gía của Trần Chiếu Phi (Chen Zhaopi) (1893-1972) và Tân Gía của Trần Phát Khoa (Chen Fake) (1887-1957).

Môn Trần gia Thái Cực quyền được biết ngoài gia đình họ Trần nhờ công của:

- Trần Phát Khoa (Chen FaKe) và con là Trần Chiều Khuê (Chen Zhaokui) (1928-1981), thuộc Tân Gía.

- Trần Chiếu Phi (Chen Zhao Fei) thuộc Lão Gía.

- Trần Tử Minh (Chen Ziming) (?-1951) thuộc Tiểu Gía.

Chương trình hiện nay của chi pháo Lão Gía Trần Gia Thái Cực quyền bao gồm:

Thái cực quyền đệ nhất lộ (Taijiquan diyilu); Thái cực quyền đệ nhị lộ hay Pháo Truỳ; Ngũ chủng Thôi thủ (Wushongtuishou); Thái cực đơn kiếm (Taijidandao); Thái cực thương (Taijqiang); Thái cực thập tam can (Taijishisangan); Trần thị Xuân thu đại đao (Chenshi Chungqiudadao) Thái cực song kiếm (Taijishuangjian); Thái cực song đao (Taijishuangdao); Thái cực tam can, bát can đối luyện (Taijisang Bagan duilian);Thái cực sao can đối luyện (Taijishaogan duilian);...

Hiện nay, có năm chi phái Thái cực quyền thịnh hành nhất là:

- Chi phái Trần (Chen) từ Trần Vương Đình (1600-1680),

- Chi phái Dương (Yang) từ Dương Lộ Thiền (1799-1872)

- Chi phái Ngô (Wu) từ Ngô Giám Tuyền (Wu Jianquan) (1870-1942), học trò đời thứ hai của Dương Lộ Thiền.

- Chi phái Võ (Wu) từ Võ Tương (Wu Yuxiang) (1812-1880), học trò của Dương Lộ Thiền và Trần Thanh Bình (thế hệ thứ 15 của gia đình họ Trần, 1795-1868) và

- Chi phái Tôn (Sun) từ Tôn Lộc Đường (Sun Lutang) (1861-1932), học trò đời thứ hai của Võ Vũ Tương.

Những chi phái Dương, Ngô, Võ và Tôn chỉ dạy một bài quyền, và sau đó môn Thôi thủ (Tuishou). Chi phái Trần có dạy thêm một bài thứ nhì, bài Pháo Truỳ, bổ túc bài thứ nhất.

Riêng tại Việt Nam có môn Triệu Gia Thái Cực Chưởng (Zhaojia Taiji Zhang), do Triệu Trúc Khê (Zhao Zhuxi) (1898-1991), thuộc Thái cực đường lang quyền (Taiji Tanglang quan), sáng tác vào thập niên 1950 tại Việt Nam.

Chương trình của môn này gồm có:

- Thái Cực quyền gồm 24 thức (là bài Giản hoá Dương Gia Thái cực quyền sáng tác vào thập niên 1950 tại Trung Quốc dưới sự chỉ định của Quốc Gia Thể Uỷ)

- Đơn vãn thôi thủ (Danwantuishou)

- Thái cực chưởng (Taijizhang)

- Thái cực kiếm (Taijijian)

- Thái cực đao (Taijidao)

Nhiều môn khác cùng mang tên Thái cực quyền là:

- Hoà Gia Thái cực quyền (Hijia Taiji Quan) lập bởi Hoà Triệu Nguyên (HeZhaoyuan) (1810-1890), đệ tử của Trần Thanh Bình.

- Lý Gia Thái cực quyền (Lijia Taiji Quan) lập bởi Lý Thụy Đông (Li Ruidong), đệ tử đời thứ hai của Dương Lộ Thiền, vào cuối thế kỷ thứ 19, môn này còn được gọi là Ngũ Tinh Thái Cực quyền (Wuxing Taiji quan) hay Ngũ Tinh Truỳ (Wuxing Chui).

- Lý Gia Thái cực quyền (Lijia Taiji Quan) truyền bởi Lý Anh Ngang (Li Yingang) (thế kỷ thứ 20)

- Nhạc Gia Thái Cực quyền (Yuejia Taiji Quan) thành lập vào đầu thế kỷ thứ 20

- Phó Gia Thái Cực quyền (Fujia Taiji Quan) lập bởi Phó Chấn Tung (Fu Zhensong) (1881-1953)

- Tam Hợp Nhất Thái cực quyền (Sanheyi Taiji Quan) lập bởi Trương Kính Chi (Zhang Jingshi), đệ tử đời thứ tư của Trần Thanh Bình

- Thiếu Lâm Tổng Hợp Thái cực quyền (Shaolin Zonghe Taiji Quan) truyền bỏi nhà sư Như Tỉnh (Ru Jing) vào thế kỷ thứ 19.

- Thường gia Thái cực quyền (Channgjia Taiji Quan) lập bởi Thường Đông Thăng (Chang Dongshing) (1909-1986), một danh sư môn Suất Giao, với biệt danh là Hoa Hồ Điệp (Huahudie)

- Triệu Bảo Gía Thái Cực quyền (Zhaobaojia Taiji Quan) lập bởi Trần Thanh Bình

- Trịnh Gia Thái Cực quyền (Zhengjia Taiji Quan) lập bởi Trịnh Mãn Thanh (Zheng Manqing) (1901-1975)

- Trương Gia Thái Cực quyền (Zhangjia Taiji quan) truyền bởi Vạn Lai Thanh (Wan Laisheng) (1903-1992)

-Võ Đang Thái Cực quyền (Wudang Taiji Quan), còn được gọi là Do Long Phái (Youlong Pai) hay Long Hành Thái Cực quyền (Longxing Taiji Quan), mới sáng tác, sau này trên tiêu chuẩn của Dương Gia Thái Cực quyền hiện dạy trên núi Võ Đang...

Luận bàn về mối quan hệ giữa Thiếu Lâm quyền và Thái Cực quyền

Từ xưa đến nay, võ lâm Trung Hoa luôn quan niệm rằng: Thiếu Lâm tự là võ lâm ngoạI gia vì đây là môn phái do Đạt ma Sư Tổ người Ấn Độ truyền bá vào Trung Quốc; còn Thái Cực Quyền mới là võ lâm nội gia do ngườI Trung Quốc sang tạo. Vậy có mối liên hệ gì giữa hai môn phái về nguồn gốc lịch sử cũng như các kĩ thuật và bài bản?!

Để cho dễ hiểu, chúng tôi xin chia cuộc luận bàn này ra tám điều. Gỉa thuyết chúng tôi trình bày sau đây, tuy chỉ là một giả thuyết, nhưng dựa vào sự kiện lịch sử:

1/ Chỉ vào thời Trần Vương Đình ta mới nghe nói tới võ thuật của dòng họ Trần, Trần Vương Đình có phải là người sáng tác ra Thái Cực quyền hay là ông đã học với một người ngoài gia đình ông?

2/ Nhà văn Đường Hào (Tang Hao) (1897-1959) có đến Trần gia câu nghiên cứu và đã đưa ra thuyết là Trần Vương Đình sáng chế Thái Cực quyền đưa vào quyển Kỷ xảo tân thư (Jixiao Xingshu) của Đại tướng Thích Kế Quang (1528-1588). Quyển sách này, xuất bản vào năm 1562, mô tả bằng hình vẽ 32 thế quyền, rút tỉa từ 16 môn quyền thuật của cuối triều đại nhà Minh (1368-1644), và 29 trong 32 tên của những thế quyền này được tìm thấy trong 7 lộ xưa của môn Thái Cực quyền. Chẳng những tên giống mà có lúc thế lại giống nhau.

Theo chúng tôi, Đường Hào đã chứng minh rõ là môn Thái Cực quyền đã bị ảnh hưởng nhiều bởi môn võ của Thích Kế Quang nhưng ông không có chứng minh được môn Thái cực quyền truyền từ Thích Kế Quang... Trần Vương Đình chế môn Thái cực từ quyển sách Kỷ xảo tân thư hay là ông đã học môn võ đó từ một đệ tử đời thứ nhất hay thứ nhì của Thích Kế Quang?

Có một môn võ hiện đại, Thích Gia Quyền (Qijia Quan). Trong những thế đặc biệt của môn phái, chúng tôi có tìm thấy: Bằng (Peng) và Tề (ji)- hai thế quan trọng của Thái cực quyền, một điều cần chú ý là hai thế này không được ghi lại trong quyển Kỷ xảo tân thư.

Điều ấy có thể cho phép chúng ta nghĩ môn Thái Cực quyền không được sáng tác từ quyển Kỷ xảo tân thư mà lại được truyền từ Thích Kế Quang?

3/ Cách làng Trân Gia Câu khoảng 50 cây số, có một ngôi chùa Thiếu Lâm, được nhiều người biết đến nhờ tiểu thuyết và huyền thoại. Nếu so sánh những bài quyền xưa của Thiếu Lâm quyền và bài quyền của Thái Cực Quyền, chúng ta sẽ thấy nhiều sự trùng hợp, hơn ba mươi thế và một bài quyền (bài Pháo truỳ) mang trùng tên. Thời nay khá nhiều sách được xuất bản, nhưng thời xưa ta phải là học trò của môn phái mới biết được tên thế. Nhắc sự kiện này để giải thích là khi những thế của hai môn võ mà trùng tên thì chắc là hai môn này cùng một nguồn gốc!

Qua nghiên cứu, chúng tôi đã tìm thấy những tên sau đây trong những bài của Thái Cực quyền và Thiếu Lâm quyền: Bạch hạc lượng sí (Baihe Liang); Bài cước (Bai Jiao); Bạch xà thổ tín- Bai she Tu xin, Bạch viên hiến quả- Bai Yuan Xian Guo, Bạch vân cái đỉnh- Baiyun Gai Ding, Triều thiên- Chao Tian, Xung- Chong, Đả hổ- Da Hu, Đơn tiên- Dan Bian, Đương Đầu pháo- Dang Tou Pao, Nhị khởi cước-Er Qi Jiao, Phản thân- Fan Shen, Phục hổ- Fu Hu, Hải để lao nguyệt- Haidi Lao Yue, Hoài trung bảo nguyệt- Huai Zhong Bao Yue, Hoàng long tam giao thuỷ- Huang Long San Jiao Sui, Kim kê độc lập- Jin Ji Du Li, Khoá hổ- Kua Hu, Lan trửu- Lan Zhou, Liên hoàn pháo- Lian Huan Pao, Điểu long bải vĩ- Niaolong Bai Wei, Thất tinh- Qi Xing, Tước địa long- Que Di Long, Đồng tử bái Quan Âm- Tongzi Bai Guayin, Tảo đường thoái-Saotang Tui, Thập tự cước-Shi Zi Jiao, Thập tự thủ-Shi Zi Shou, Dương cung xạ hổ- WanGon She Hu; Vi Đà hiến can - Weituo Xian Gan; Tiên nhân chỉ lộ - Xeanren Zhi Lu ;Tà hành - Xie Xing; Truyền phong cước - Xuan Feng Jiao ; Yến tử chác - Yanzi Zhuo; Dã mã phân tung - Ye Ma Feng Zong; Ngoc nữ xuyên thoa- Yu Nu chuan Sua ,trảm thủ - Zhan Shou...

Như ta thấy , danh sách những thế trùng tên rất dài .Hơn nữa phần lý thuyết của hai môn phái có nhiều sự trùng hợp như: triền ty (Chansi) phát kình (Fajing) cương nhu tương tể,Tứ lạng bạt thiên cân...và phần nhiều những tên thế nêu trên đều nằm trong sách của Thích Kế Quang.

Chúng tôi có thể kết luận là Thiếu Lâm quyền và Thái Cực Quyền đều chịu cảnh hưởng môn quyền của Thích Kế Quang . Và vì núi Tung Sơn không xa làng Trần Gia Câu, chúng tôi cũng nghĩ là hai môn quyền thuật hoặc cùng một nguồn gốc hoặc đã ảnh hưởng đến nhau .

4/ Ba tên Kim Cang (jingang) , Vi Đà (Weituo) Quan Âm (Guanyin) trong những thế như : thứ hai của Thái cực quyền đệ nhất lộ ,thế thứ bốn bẩy của Thai cực thập tam can (Taiji Shishangan) không có trong sách của Thích Kế Quang.

Ba tên của hai vị Phật và một vị Thần này cho phép chúng tôi nghĩ là môn phái Cực quyền bắt nguồn từ Thiếu lâm quyền. Và môn Thiếu Lâm có gốc từ võ thuật của Thích kế Quang vì trong hơn phân nửa những bài của thiếu Lâm đều có ít nhất một thế của Thích Kế Quang.

Xin nhắc lại là chú Thiếu Lâm thưôừng mời các danh tài võ thuật đến chùa để chao đổi võ học.

Bát Cực Quyền


Tên đầy đủ là "Khai môn bát cực quyền", còn gọi là "Nhạc sơn bát cực quyền". Gọi tên "Khai môn giả" (người mở cửa) bắt nguồn từ sáu đường mở cửa từ đó làm hạt nhân kỹ pháp, phá bung môn hộ của đối phương (tức giá tử phòng thủ). Gọi Bát Cực là dùng theo hệ cổ đại bảo: "ở ngoài chín châu có tám dần ("bát dần")" ở ngoài bát dần thì có bát hoằng, ngoài bát hoằng thì có bát cực" Dần là nơi xa nhất của tám phương. Gọi là "Nhạc sơn", tương truyền ở Hà Nam có chùa Nhạc Sơn là nơi bắt nguồn của Bát Cực quyền nên mới lấy tên là Nhạc Sơn.



Bát cực quyền bắt đầu từ ai, theo ghi chép thì có hai thuyết: một thuyết nói do đạo sĩ họ Lại dạy nghề cho Ngô Chung người thôn Hậu Trang Khoa, huyện Khánh Vân, tỉnh Hà Bắc, còn thuyết kia báo Trương Nhạc Sơn người Hà Nam truyền cho Ngô Chung. Ngô Chung truyền nghệ cho con gái là Ngô Vinh. Về sau nhà họ Ngô di cư đến trấn Mạnh thôn, huyện Thương tỉnh Hà Bắc, do đó Mạnh Thôn dần trở nên nơi truyền bá Bát cực quyền.

Đặc điểm kỹ pháp của Bát cực quyền: giá thức ngắn nhỏ tinh luyện, động tác nhanh mạnh, kình lực khỏe, đổi hất ép dựa, hất lắc đột kích, lấy khí thực lực, lấy tiếng giúp thế, khí thế hiếp người. Ra tay lẹ như tên bắn, bước thọc như đục đá, lên mạnh xuống cứng, đốt(tiết) ngắn, thế hiểm. Khi diễn luyện bắt đầu thì uy mạnh như hổ, bình tĩnh như gấu, mạnh mẽ như ưng, xoay chuyển như rắn.

Các bài chủ yếu là: bát cực giá nhỏ, bát cực quyền (còn gọi là bát cực đối tiếp), sáu đầu khuỷu, bát cực giá mới, bát cực cương kình, bát cực hai trục, bát trận quyền v.v.. về khí giới thì có lục hợp đại thương , đâm nhau đại lục hợp là chính.

Lịch sử Bát Cực Quyền

Xuất xứ Bát cực quyền từ Mạnh Thôn thuộc khu tự trị dân tộc Hồi, cách Thương Châu tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc) khoảng 37km về hướng Đông Nam. Đây là một hệ thống quyền được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong khoảng những năm 1644 nhà Thanh.

Đặc điểm quyền thuật

Bát cực quyền hấp thu được tinh hoa của Thiếu Lâm phái, Võ Đang phái, Không Động phái v.v. nhấn mạnh đặc tính cương mãnh, chủ về tấn công. Hệ thống này thường áp dụng chiêu thức liên châu pháo trong cận chiến, thế mạnh như dương cung, sấm sét, mạnh bạo, dữ dội và đầy bất ngờ với uy lực phát huy tối đa từ nắm tay, cùi chỏ, đầu gối, đầu. Những công phu trấn sơn tinh hoa của Bát cực quyền bao gồm Bát cực nội công tâm pháp với 64 thế thủ, 24 thức, 8 đỉnh, 12 đề, 108 chiêu biến hóa tấn công, và Lục hợp đại thương mật phổ.



Do tính chất thực dụng, kỹ thuật đơn giản mà hiệu quả, hệ phái võ thuật cổ điển này hiện nay rất phổ biến ở Bắc Trung Quốc và được nhiều giới theo học, nhất là thanh niên. Tuy nhiên do Bát cực quyền rất khó luyện đại thành, đòi hỏi môn đồ thực hành cần cù miệt mài nên ít người đạt trình độ cao.

Danh nhân Bát Cực Quyền

Đời Khang Hy triều Thanh, quyền sư Đinh Phát Tường chuyên luyện Bát cực quyền ở Mạnh Thôn đã thượng đài hạ gục hai đại lực sĩ người Nga tự xưng là vô địch thiên hạ từng hạ thủ nhiều cao đồ Trung Quốc. Đinh Phát Tường sau đó đã được vua Khang Hy ban tặng danh hiệu “thiết tráng sĩ võ hiệp”. Sau Đinh Phát Tường, lần lượt các danh nhân Bát cực quyền được biết đến, khiến môn phái ngày càng lừng danh như Bắc phương thần thương thủ Ngô Chung, Lý Thụ Văn, Đinh Ngọc Lâm, Ngô Tú Phong, Mã Hiển Đạt v.v.

Hiện nay, người kế thừa và phát dương tinh hoa Bát cực quyền Mạnh Thôn là võ sư Đinh Nhuận Hoa, hậu duệ đời thứ 13 của Đinh Phát Tường. Ông hiện là chủ tịch Hiệp hội võ thuật khu tự trị dân tộc Hồi tỉnh Hồ Bắc và là Chủ nhiệm Võ quán Tinh anh Bát cực quyền với hơn 3000 môn đồ. Từ đây, nhiều đệ tử của Nhuận Hoa đã thành danh, như 13 trọng tài võ thuật cấp quốc gia, 35 võ sĩ từng đoạt ngôi vô địch hoặc thứ hạng cao trong các giải Wushu toàn quốc, 125 huấn luyện viên Wushu cao cấp. Đặc biệt võ sĩ Lý Chiếm Hoa, môn đồ của Đinh Nhuận Hoa, đã từng tham gia đoàn Wushu Trung Quốc biểu diễn Bát cực quyền tại Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc, Indonesia, Singapore và được tán thưởng với những tuyệt kỹ công phu của Bát cực quyền.



Đánh giá

Bát cực quyền được giới võ lâm Trung Quốc đề cao hết mực: “Văn dụng Thái cực an thiên hạ, Vũ hữu Bát cực định càn khôn”, có lẽ xuất xứ từ câu nói của Càn Long hoàng đế đời Thanh: "Đối với nhu phái và trong thời bình, chúng ta có Thái cực quyền, nhưng để chiến đấu và chinh phục, chúng ta có Bát cực quyền". Trong thực tế Thanh triều, hầu hết các hoàng đế đều học Bát cực quyền và dùng các võ sư của môn phái này làm hộ vệ hoặc làm giáo đầu cho các võ quan cao cấp của mình.

Sơ lược về Thái cực quyền

Nguồn gốc:
Về nguồn gốc Thái cực quyền, người ta có những luận điểm suy đoán khác nhau. Theo nhiều tài liệu, Thái cực quyền được ra đời cách đây hơn 300 năm do sự sáng tạo của một người họ Trần ở Trần Gia Câu, huyện Ôn, tỉnh Hà Nam, tên là Trần Vương Đình. Ở Việt Nam, cùng với sự phổ biến của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung trong đó có nhắc tới việc Trương Tam Phong là người đầu tiên nghĩ ra Thái cực quyền, nhiều người tin rằng ông tổ của môn võ này chính là Trương Tam Phong. Tuy nhiên, với sự phổ biến của cuốn Thái cực quyền phổ do Vương Tông Nhạc đời Càn Long trứ tác, và ảnh hưởng của cuốn sách này đến các hệ phái Thái cực quyền về sau, các học giả ngày càng nghiêng về khả năng Vương Tông Nhạc mới là người khai sáng Thái cực quyền.
Các dòng phái chính
Ngũ đại danh gia
Theo tài liệu Thái cực quyền thường thức vấn đáp của tác giả Trương Văn Nguyên thì Thái cưc quyền có bảy nhà như sau:

1. Thái cực quyền Trần Gia Lão giá bắt đầu từ Trần Trường Hưng ở Trần Gia Câu, Hà Nam.
2. Thái cực quyền Trần gia Tân giá bắt đầu từ Trần Hữu Bản cũng ở Trần Gia Câu, Hà Nam.
3. Thái cực quyền Trần Gia Tiểu giá bắt đầu từ Trần Thanh Bình ở làng Triệu Bảo (gần Trần Gia Câu), còn gọi là Triệu Bảo giá Thái cực quyền.
4. Thái cực quyền Dương gia bắt đầu từ Dương Lộ Thiền truyền cho hai con trai là Dương Ban Hầu và Dương Kiện Hầu, Dương Kiện Hầu lại truyền cho con là Dương Trừng Phủ. Hệ phái Dương gia Thái cực quyền hiện có bài giản hóa 24 thức thường dùng cho các lớp dưỡng sinh.
5. Thái cực quyền Vũ gia bắt đầu từ Vũ Vũ Tương người huyện Vĩnh Niên, phủ Quảng Bình, tỉnh Trực Lệ, đến Ôn Châu Hà Nam, theo học với Trần Thanh Bình.
6. Thái cực quyền Ngô gia bắt đầu từ cha con của Ngô Toàn Hựu và Ngô Giám Tuyền học từ Dương Lộ Thiền.
7. Thái cực quyền Tôn gia bắt đầu từ Tôn Lộc Đường (người Bắc Kinh) học từ Hác Vi Chân.

Tuy vậy, trong Thái cực quyền toàn tập liệt kê 5 nhà lớn nhất:

1. Trần thức Thái cực quyền tổng hợp cả 3 giá (Lão giá, Tân giá và Tiểu giá),
2. Dương thức Thái cực quyền,
3. Ngô thức Thái cực quyền,
4. Võ thức Thái cực quyền
5. Tôn thức Thái cực quyền.

Các chi phái Dương, Ngô, Võ và Tôn chỉ dạy một bài quyền và sau đó môn Thôi thủ (Tuishou). Riêng chi phái Trần có dạy thêm một bài thứ nhì bài Pháo trùy quyền, bổ túc cho bài thứ nhất.
Các hệ phái khác:
Bên cạnh 5 nhà nói trên, tại Trung Hoa (và cả Việt Nam) hiện còn lưu truyền nhiều hệ phái Thái cực quyền khác nhau, trong đó có nhiều hệ phái xuất xứ từ Thái cực quyền của dòng họ Trần, bao gồm:

1. Hòa gia Thái cực quyền (Hijia Taiji Quan) lập bởi Hòa Triệu Nguyên (HeZhaoyuan) (1810-1890), đệ tử của Trần Thanh Bình.
2. Lý gia Thái cực quyền (Lijia Taiji Quan) lập bởi Lý Thụy Đông (Li Ruidong), đệ tử đời thứ hai của Dương Lộ Thiền. Vào cuối thế kỷ thứ 19, môn này còn được gọi là Ngũ Tinh Thái Cực quyền (Wuxing Taiji quan) hay Ngũ Tinh Trùy (Wuxing Chui).
3. Lý gia Thái cực quyền (Lijia Taiji Quan) truyền bởi Lý Anh Ngang (Li Yingang) thế kỷ 20
4. Nhạc gia Thái cực quyền (Yuejia Taiji Quan) thành lập vào đầu thế kỷ thứ 20.
5. Phó gia Thái cực quyền (Fujia Taiji Quan) lập bởi Phó Chấn Tung (Fu Zhensong) (1881-1953)
6. Tam Hợp Nhất Thái cực quyền (Sanheyi Taiji Quan) lập bởi Trương Kính Chi (Zhang Jingshi), đệ tử đời thứ tư của Trần Thanh Bình.
7. Thiếu Lâm tổng hợp Thái cực quyền (Shaolin Zonghe Taiji Quan) từ Như Tỉnh (Ru Jing) vào thế kỷ thứ 19.
8. Thường gia Thái cực quyền (Channgjia Taiji Quan) lập bởi Thường Đông Thăng (Chang Dongshing) (1909-1986).
9. Triệu Bảo gia Thái cực quyền (Zhaobaojia Taiji Quan) lập bởi Trần Thanh Bình.
10. Trịnh gia Thái cực quyền (Zhengjia Taiji Quan) lập bởi Trịnh Mãn Thanh (Zheng Manqing) (1901-1975)
11. Trương gia Thái cực quyền (Zhangjia Taiji quan) truyền bởi Vạn Lai Thanh (Wan Laisheng) (1903-1992)
12. Võ Đang Thái cực quyền (Wudang Taiji Quan), còn được gọi là Do Long Phái (Youlong Pai) hay Long Hành Thái Cực quyền (Longxing Taiji Quan), mới được sáng tác, sau này trên tiêu chuẩn của Dương Gia Thái Cực quyền[3].
13. Triệu gia Thái cực chưởng (Zhaojia Taiji Zhang) do Triệu Trúc Khê (Zhao Zhuxi) (1898-1991) sáng tác vào thập niên 1950. Chương trình của môn này bao gồm bài Dương gia Thái cực quyền giản hóa 24 thức; Đơn vãn thôi thủ (Danwantuishou); Thái cực chưởng (Taijizhang); Thái cực kiếm (Taijijian); Thái cực đao (Taijidao)[3]. Ngoại trừ bài Dương gia Thái cực quyền giản hóa 24 thức, kỹ thuật của bộ môn thuộc Thái cực Đường Lang quyền (Taiji Tanglang quan) không dính dáng đến các lưu phái Thái cực Trường quyền nói trên.
14. Thái cực quyền-trường phái Trường sinh đạo (gọi tắt là Thái cực trường sinh đạo được cụ Song Tùng truyền từ gia tộc đến các học viên tại các lớp học của Câu lạc bộ UNESCO Thái cực trường sinh đạo. Theo ý kiến của cụ Song Tùng "đây là bài Thái cực quyền kết hợp với luyện thiền từ Trung Quốc và Yoga Ấn Độ truyền bá sang Việt Nam, được cha ông chúng ta "Việt hóa"". Bài bao gồm 108 động tác, đồ hình và thủ pháp khá giống bài Dương gia Thái cực giản hóa 24 thức tuy có khác ở điểm giữ thân trung chính không nhấp nhô đầu.
Đặc điểm:
Tư tưởng
Tên gọi Thái cực quyền xuất phát từ tư tưởng Thái cực trong Chu dịch và học thuyết Âm Dương: Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng (hai chân, hai tay), Tứ tượng sinh Bát quái (tám tiết đoạn của tay chân gập duỗi được), Bát quái biến 64 quẻ... "Thái" ở đây nghĩa là to lớn, "cực" nghĩa là điểm bắt đầu. Thái Cực Đồ nói rằng: "Vô cực mà thái cực". Dùng lối thở bụng của Đạo gia, Thái cực quyền khiến người tập hô hấp thâm trường không bị rối loạn, sức mạnh gia tăng, hình thành một công phu đặc thù trong võ học. Các động tác của bài quyền uyển chuyển và mềm mại, trong nhu có cương, dung hợp với học thuyết kinh mạch âm dương. Thái cực quyền đã trở thành một phương pháp tập luyện trong ngoài tương ứng, hình thức và tâm ý kết hợp.

Tính nhân văn:
Nét chính yếu của Thái cực quyền là mô phỏng các hiện tượng tự nhiên. Nhiều chiêu thức trong bài hình ít nhiều mang đặc tính lãng mạn và nhân văn, ví dụ như: vân thủ (nghĩa là chiêu thức xoay tay như mây trắng xoay cuộn giữa trời xanh), bạch hạc lượng xí (con chim hạc vui múa), ngọc nữ xuyên thoa (thiếu nữ may áo), chuyển thân bài liên (lá sen lay động trước gió), như phong tự bế (như gió thổi làm cửa đóng), hải để châm (kim châm đáy bể) v.v. Thái cực quyền cũng là bộ môn ứng dụng nội công, rất thâm thúy và sâu sắc, với những tâm pháp mà các môn sinh phải thuộc nằm lòng để thi triển và ứng dụng hữu hiệu. Tuy chỉ có một bài quyền với các chiêu thức đơn giản nhưng người tập phải trải qua một tiến trình tập rất dài mới thấu hiểu lý pháp.

Nguyên tắc tập luyện:
Các nguyên tắc, yếu lĩnh tập luyện khai triển Thái cực quyền mỗi dòng phái có sự dị biệt ít nhiều, tuy nhiên thường có một vài nguyên tắc khá liên quán, thống nhất. Dưới đây là một số nguyên tắc của dòng Dương thức Thái cực quyền:

* Hư linh đỉnh kình: đầu cổ ngay thẳng, thần quán ở đỉnh
* Hàm hung bạt bối: ngực lõm, lưng phẳng để khí trầm đan điền
* Tùng yêu: chân tay theo sự vận động của eo, lấy eo làm chỗ dựa
* Phân hư thực: hư, thực rõ ràng.
* Trầm kiên trụy chẩu: vai lỏng chỏ buông
* Dụng ý bất dụng lực: lấy ý điều khiển động tác
* Thượng hạ tương tùy: trên dưới theo nhau
* Nội ngoại tương hợp: trong ngoài hợp nhau, tâm ý khí lực là một
* Tương liên bất đoạn: động tác liên tiếp không dừng, thao thao bất tuyệt, liên miên như kéo tơ.
* Động trung cầu tịnh: Trong động tìm cái tĩnh. Lấy tĩnh chế động.

Bài hình
Từ giai đoạn đầu với 7 bài quyền và các công phu bổ trợ, nhiều bài kiếm, thương, đao do Trần Vương Đình đưa vào dòng họ, cho tới các đời sau đã hợp nhất lại thành 2 bài quyền là "Đệ nhất lộ" và "Pháo chùy quyền". Các lưu phái Thái cực quyền khác thuộc ngũ đại danh gia Thái cực (Trần, Dương, Ngô, Võ, Tôn), ngoại trừ Trần gia, về sau chỉ còn truyền lại 1 bài quyền. Từ thời điểm 1956, khi Dương gia Thái cực đã có bài 24 thức giản hóa, các dòng Trần gia, Võ gia..., bên cạnh bài gốc cũng đã đi theo xu hướng tinh giản các chiêu thức trùng lặp hoặc phức tạp, vốn không thuận tiện cho người già cả hay thể lực suy nhược, để hình thành thêm các bài rút gọn.

Các bài Thái cực kiếm, Thái cực côn, Thái cực phiến (quạt) v.v phần lớn do các võ phái đời sau nghiên cứu, xiển dương và sáng chế bổ túc cho võ phái của mình.

Chiêu thức trong bài Thái cực thường được chiết chiêu tập luyện song đối với kỹ pháp thôi thủ (đẩy tay), nhằm luyện cảm ứng lực để phản ứng với sự tấn công đối thủ trong thực chiến. Thôi thủ thường bao gồm Định bộ thôi thủ (thôi thủ với bộ pháp tĩnh tại) và Hoạt bộ thôi thủ (thôi thủ với bộ pháp linh hoạt).

“Quyền Phổ” và nguồn gốc của Thái Cực quyền

Cũng giống như bao phái võ khác, nguồn gốc của Thái Cực Quyền NộI gia Trung Hoa còn ẩn chứa rất nhiều tranh cãi. Cùng với “Quyền Phổ”, một cuốn võ thư được coi là nền tảng tinh hoa của Thái Cực Quyền, mỗi hệ phái Thái Cực đều có những lý luận, căn cứ riêng của mình để chứng minh nguồn gốc Phái võ. Chúng tôi xin nêu ra một số quan diểm khác nhau để mọi người cùng tham khảo và thảo luận.

1.TƯỞNG PHÁT VÀ THÁI CỰC QUYỀN

Tưởng Phát (Jiang Fa) (1574-?) người tỉnh Sơn Tây, là một vị tướng đã tham gia vào cuộc nổi dậy chống lại nhà Minh. Theo những quyền sư thuộc Dương gia Thái Cực quyền, Tưởng Phát là thầy của Trần Vương Đình (1600-1680), nhìn theo khía cạnh tuổi tác, chuyện này hợp lý vì Tưởng Phát lớn hơn Trần Vương Đình quá 25 tuổi. Vậy Tưởng Phát là người truyền dạy môn Thái cực cho gia đình họ Trần?

Nhưng theo tấm bia hiện còn giữa tại làng Trần Gia Câu, ta có thể thấy Trần Vương Đình ngồi còn Tưởng Phát đứng sau lưng và tay mang đao, điều này chứng tỏ Tưởng Phát là học trò của Trần Vương Đình. Nhưng có người nhận xét là trên tấm bia Trần Vương Đình lại lớn tuổi hơn Tưởng Phát.Theo học giả khác, Tưởng Phát làm hộ vệ cho Trần Vương Đình sau khi bị nhà Minh đánh bại.

2.VƯƠNG TÔNG NHẠC VÀ THÁI CỰC QUYỀN

Theo Trần Vy Minh (Chen Wei Ming) (1881-1958), học trò của Dương Trừng Phủ (Yang Chengfu) (Dương Trừng Phủ là cháu nội của Dương Lộ Thiền), gia đình họ Trần đã học Thái Cực quyền với Vương Tông Nhạc (Wang Zong Yue), người tỉnh Sơn Tây. Sự kiện này xảy ra vào thế kỷ 18. Trần Vy Minh đưa thuyết này dựa vào cuốn "Quyền phổ" mà người ta gán cho Vương Tông Nhạc viết và được Võ Vũ Tương khám phá ra vào năm 1852.

Có học giả khác quả quyết Tưởng Phát là đệ tử của Vương Tông Nhạc. Nhưng Vương sống vào thế kỷ thứ 18 và Tưởng sống vào thế kỷ 16 và 17. Nên chúng tôi không bàn thêm về giả thuyết này.

Chúng tôi xin trở lại cuốn "Quyền Phổ". Thật sự bản chép tay này có phải do Vương Tông Nhạc viết tay không? Trong bản này có những bài luận như: Thái cực quyền luận, Thập tam thế, Thập tam thế hành công ca, Đả thủ yếu ngôn, Đả thủ ca...Chúng tôi xin tra xét tất cả những giả thuyết.

Giả thuyết thứ nhất: "Quyền phổ" do Vương Tông Nhạc viết và ông cũng chính là thầy của gia đình họ Trần.

Trước hết, sự biến đổi của Thái cực quyền xảy ra vào thế hệ của Trần Trường Hưng (1771-1853), Trần Hữu Bản và Trần Hữu Hằng, sau khoảng thời kỳ mà giả thuyết cho là Vương Tông Nhạc tới làng Trần Gia Câu. Nhưng khi bàn về sự liên hệ của Thái Cực Quyền với Thiếu Lâm quyền và môn võ của Thích Kế Quang, và sự liên hệ này có từ thế kỷ 17, chúng ta chỉ có thể nghĩ là sự ảnh hưởng của Thái cực quyền bởi Vương Tông Nhạc rất ít.

Như vậy, Vương Tông Nhạc đã đem lại những gì cho môn võ của dòng họ Trần?

Theo "Quyển phổ", môn võ của Vương Tông Nhạc có 13 thế: Bằng (Peng), Phúc (Lu), Tề (Ji), Án (An Thái Cai), Liệt (Lie), Trửu (Zhou), Kháo (Kao), Tiến (Jin), Thối (Tui), Cố (Gu), Phán (Pan), Định (Ding), đó chính là 13 thế của Thái cực quyền Thôi thủ (Tuishou).

Như vậy có phải Vương Tông Nhạc đem môn Thôi thủ truyền cho gia đình họ Trần, và môn Thôi thủ sau đó được nhập vào môn võ của dòng họ Trần?

Nhưng gần như tất cả những thế này và những nguyên tắc của Thôi thủ đều nằm trong Thiếu Lâm quyền xưa (Phúc, Tề, Án, Thái, Trửu, Thiểm, Đáp thủ...) hay trong môn Thích gia quyền (Bằng, Tề, Thái, Kháo, Tiến, Thối, Cố, Phán và Định). Và thế Bằng được ghi lại trong "Quyền Kinh tổng ca" của Trần Vương Đình. Còn những nguyên tắc như Triền Ty, Phát Kình và Tứ lạng bạt thiên cân, đều nằm trong bài luận của Thiếu Lâm Quyền.

Theo trên, chúng ta chỉ kết luận là môn võ của Vương Tông Nhạc rất giống môn võ của dòng họ Trần và khó tin là Vương Tông Nhạc đã dạy võ cho gia đình họ Trần.

Giả thuyết thứ hai "Quyền Phổ" do Vương Tông Nhạc viết và Vương Tông Nhạc là học trò của gia đình họ Trần.

Theo Cố Lưu Hinh (Gu Liuxin) (1908-1991), Vương Tông Nhạc là học trò của thế hệ thứ 13 của gia đình họ Trần...những quyển sách đầu tiên về Dương gia Thái cực quyền bàn tới Vương Tông Nhạc.

Giả thuyết thứ ba: "Quyển Phổ" không phải do Vương Tông Nhạc viết "Quyển Phổ" có thể do Võ Vũ Tương (Wu Yuxiang) (1812-1880) viết, có lẽ để giảm bớt thanh danh của gia đình họ Trần. Và ông có thể đặt tên Vương Tông Nhạc dựa vào tên Vương Tông của Nội gia quyền.

Như vậy có nghĩa là Võ Vũ Tương đã sao chép lại lý thuyết mà ông đã gom góp được tại làng Trần Gia Câu và Triệu Bảo Chấn.

Theo chúng tôi nghĩ, giả thuyết thứ ba hợp lý nhất.

Xin nhắc lại cuốn "Quyển Phổ" hiện nay được tất cả các chi phái Thái Cực Quyền sử dụng làm lý thuyết căn bản cho môn phái.