Hiển thị các bài đăng có nhãn hong-gia-quyen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hong-gia-quyen. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Hồng Gia Quyền

Hồng Gia Quyền

Hồng Gia Quyền là một môn phái nổi tiếng ở miền Nam Trung Hoa. Hồng Gia Quyền hay cong gọi là Hồng Gia Phái hay Hồng Phật Phái có nguồn gốc từ Thiếu Lâm Tự. Vị tổ sư sáng lập Hồng Gia Quyền là Hồng Hy Công, đệ tử của Chí Thiện Thiền Sư người đã rời khỏi chùa Thiếu Lâm ở Phúc Kiến vào cuối thế kỷ 17. Hồng Hy Công sau đó kết hôn với Phương Vĩnh Xuân, cũng là một cao thủ trong giới võ lâm thời bấy giờ.

Hồng Hy Công học võ Thiếu Lâm nên lối đi quyền và phong cách giao đấu của ông rất dứt khoát và dũng mãnh. Đó chính là dáng dấp và đường nét cũ trong Hổ Hình Quyền của Thiếu Lâm Tự. Phu nhân của ông lại thiên về nhu quyền, lấy hình dáng động tác của loài Hạc mà sử dụng để tránh đỡ, nhập nội.

Sau này Hồng Hy Công đã sáng lập ra Hồng Gia Quyền (Môn phái võ nhà họ Hồng). Tổng hợp tinh hoa của cả hai vợ chồng chính là bài thảo Hổ Hạc Song Hình Quyền nổi tiếng của môn phái. Bài thảo này thiên về các đòn khóa chặn tay. Các đòn tay nhu xen với một số các đòn đá chặn làm cho bài quyền trở nên vô cùng biến hóa, cương nhu kết hợp.

Môn phái này được du nhập vào Việt Nam khá sớm và nhanh chóng phát triển với một bản sắc rất đặc trưng. Các bài quyền, binh khí rất đa dạng được các võ sư môn phái truyền dạy và phát triển lại như La Hán Quyền, Bát Quái côn, Tứ Linh Đao,... Hiện nay phong trào luyện tập võ thuật của Hồng Gia Quyền rất phát triển.

Chấp chưởng môn Thiếu Lâm Hổng Gia - Tô Tử Quang là người đã kế thừa và phát huy những bản sắc của môn phái. Đặc trưng hơn nữa là môn phái này mang tính gia truyền, và là của độc với đúng ý nghĩa của nó. Ông đã đem lại cho Thiếu Lâm Hồng Gia một cá tính, cốt cách riêng. Sau này các võ sư kế cận như võ sư Cường, Chiến, Thắng, Hà,... cũng đã không ngừng phát huy làm rạng danh môn phái bằng những thành tích thiết thực trong các kỳ hội diễn võ thuật.

Hồng gia quyền

Hồng Gia Quyền đi theo xu hướng “trong nhu có cương, trong sự mềm mại của bông gòn có sắt thép”.

Hồng Gia truyền đến Việt Nam hơn nửa thế kỷ, và đã đồng hóa trở thành Hồng Gia Việt Nam. Người nhận lãnh trọng trách chưởng môn là võ sư Lý Hồng Thái, hiện đang định cư ở Mỹ. Vừa trở vê VN, chưa kịp nghỉ ngơi ông đã có một buổi xêmina dành cho cao đồ và các bằng hữu.

Những điều ông nói thật khó cảm nhận đối với nhiều người vốn mang nặng lý tính. Thế nhưng ông không nói suông mà đã chứng minh thế nào là “quên bỏ hết để trở về gốc, đến không còn vướng bận, không còn trụ vào đâu nữa, đi ngược với lẽ thông thường, thay vì tích trữ ta xả bỏ”. Với động tác rũ cốt, ông biến mình thành “bộ xương”, không cầu sinh, không cầu tử. Người môn đồ lấy hết sức bình sinh đấm vào bên phải “bộ xương” đó thì bên trái đòn tự động bật đánh lại, đánh bên trên thì bên dưới bật đá ra.

Đánh chậm nó phản đòn chậm, đánh nhanh nó phản đòn nhanh. Thoắt cái, ông trở về trạng thái bình thường, và chậm rãi giải thích: “Thật ra nó không lo tự vệ cũng như có ý định đánh lại ta, trái lại nó nương vào ta, nhờ ta động mà nó sống. Sự phản đòn của nó là hoàn toàn tự nhiên, không tính toán, không chiêu thức”.
Võ sư Lý Hồng Thái là bậc kỳ tài võ thuật. Ông đã đi khắp thế giới và “lâm sàng” với nhiều môn phái. Các tạp chí võ thuật nổi tiếng như Kung Fu, Karate Bushido, Black Belt... ở nước ngoài đều có những bài viết trang trọng về ông. Ông cũng đã tìm về La Phù Sơn thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) để nhận chân lại nguồn gốc. Tuy nhiên môn Huyền công một thời vang bóng giờ đã lụi tàn. Thời gian như bóng câu, cái gì không được gìn giữ thì sẽ nhanh chóng mai một, thất truyền. “Cũng may là dòng võ đặc dị này còn lưu giữ tại Việt Nam”.

...Ngày ấy là một buổi sáng mùa xuân, tiết trời Hà Nội hãy còn lạnh buốt. Bên trong một trang viên có một cậu bé ốm yếu, tính mạng đang lâm vào tình trạng thập tử nhất sinh. Một hán tử xuất hiện dùng thuật châm cứu kịp thời cứu sống đứa bé. Và trang hán tử đó đã nhận đứa bé làm dưỡng tử đưa về Tàu chạy chữa, với lời hứa: “Ba năm sau lên núi La Phù, xem sự sống chết của đứa trẻ ra sao”.

Người hán tử trung niên ấy chính là sư phụ Lý Văn Tân, chưởng môn của thánh địa La Phù Sơn. Đứa bé ấy chính là cháu bôn đời của cụ Tam nguyên Yên Đô Nguyễn Khuyến, người sau này khai sáng môn Hồng Gia Việt Nam, có tên là Nguyễn Mạnh Đức. Như một cơ duyên, cậu bé Nguyễn Mạnh Đức theo thầy tu tập ròng rã hơn hai mươi năm trên sơn động.
La Phù Sơn, nằm giữa Quảng Châu và Huệ Châu, trước thời nhà Đường, vùng này thuộc đất Giao Chỉ. Tương truyền tại núi La Phù nửa đêm có thể nhìn thấy mặt trời. Núi có hai lầu đá, chùa Diên Tường ở lầu nam, động Chu Minh ở phía sau Xung Hư quán, được coi là động thứ bảy của cõi bồng lai. Sau quán Xung Hư có đàn Triều Đẩu (đàn ngắm sao) của Chu Minh chân nhân. Vùng này nghe có nhiều đan sa, nên Cát Hồng đời Đông Tấn thích phép đạo dẫn thần tiên, đã đưa gia đình về đây để luyện tiên đan hòng cầu trường sinh bất tử. Ngọn núi này cũng là nơi xuất phát môn phái Hồng Gia Quyền - Huyền công La Phù Sơn.

Ngày xuống núi, Nguyễn Mạnh Đức không những tinh thông Thập bát ban võ nghệ, còn am tường dịch học, y lý và và nắm vững toàn khâu bộ Thái Ât chân kinh.

Hồng Gia Quyền được truyền bá và đón nhận nồng nhiệt tại Việt Nam. Có thể do những chiêu thức kỳ ảo biến hóa khôn lường như Ma vân thủ, hay ở bộ pháp linh hoạt tuyệt diệu của Địa đàng công, hoặc ở phần tâm pháp Xả kỷ tùng nhân, Tiên ưu hậu lạc... là hấp lực lôi kéo mọi người đến với Hồng Gia.

Khi chuyên cần luyện tập nội công và quyền pháp Hồng Gia, người luyện sẽ khám phá được sức vận chuyển âm thầm của ngũ hành, hiểu được thế nào là “nước mềm làm mòn đá cứng” để thấu triệt nguyên lý lấy nhu thắng cương. Khi áp dụng vào tấn pháp có thể đạt đến trạng thái cực tĩnh để quán thông được nhất cử, nhất động của đối phương. Đây cũng là cái tĩnh của bậc hiền nhân khi tâm tư đã lắng đọng để giao hòa cùng thiên nhiên nhiên, vạn vật.

Võ sư Lý Hồng Thái đã tiếp nhận toàn bộ tuyệt kỹ từ tay sư phụ và cũng là thân phụ ông truyền lại. Với trách nhiệm xiển dương dòng phái, ông đã ngày đêm miệt mài mang những tinh hoa võ học của người xưa “phổ” lại cho người Việt Nam. Tại Mỹ, ngoài trụ sở Tổng đàn đặt tại Westminster, còn có các sân tập tại San Jose, Washington D.C. Tại các nước Pháp, Đức, Úc, Canada là nơi có đông đảo người Việt sinh sống đều có những sinh hoạt của Hồng Gia Việt Nam. Đặc biệt, tại Belarus và Nga, Hồng Gia Quyền phát triển rất mạnh với sự truyền bá của võ sư Lâm Thành Khanh.

Dù phát triển ở đâu, trên huy hiệu của dòng phái, ba chữ La Phù Sơn được gắn liền với sinh mệnh của Hồng Gia Việt Nam, như một biểu tượng của tinh thần “uống nước nhớ nguồn” thấm nhuần tinh thần võ đạo dân tộc.

Tuyệt kỹ Hồng Gia Quyền

Vốn là con nhà võ lại có tư chất võ học bẩm sinh, ngay từ bé Chu Há đã từng được cha dạy võ, lớn lên lại có cơ duyên được thụ giáo thêm võ thuật của một bậc danh sư cho nên ông sớm thể hiện được phẩm chất võ học kỳ tài của mình. Mặc dù có tầm vóc nhỏ bé nhưng Võ sư Chu Há được bạn bè trong giới đánh giá là người có khả năng võ học hơn người, đặc biệt là tài đánh binh khí. Có thể nói, hình như bất cứ thứ gì khi đã lọt vào tay ông đều có thể trở thành những thứ vũ khí chiến đấu hết sức lợi hại, cho dù đó là côn, đao, kiếm, kích… hay chỉ là những vật bình thường như batoong, ghế, điếu cày… Đó là điều đặc sắc mà không phải bất kỳ ai hay võ phái nào cũng có thể sử dụng được.

Lại nói về môn phái Hồng Gia Quyền. Đặc trưng kỹ thuật chiến đấu của môn phái này là các đòn thế ngắn, mạnh, cương mãnh; quyền cước liên hoàn lúc cao lúc thấp, uyển chuyển, lúc xa lúc gần khiến đối phương khó bề xoay chuyển. Mặc dù có nguồn gốc từ Trung Hoa và được mệnh danh là Hồng Quyền Nhất Gia, có nghĩa là Hồng Gia Quyền đứng đầu Trung Quốc, nhưng khi du nhập vào Việt Nam, đặc biệt là qua sự sáng tạo của võ sư Chu Há nó đã trở thành một võ phái mang nét đặc sắc riêng của Việt Nam.

Chính vì vậy, trong một lần đại hội võ thuật cổ truyền toàn quốc, giới võ thuật Việt Nam đã vô cùng kinh ngạc trước một bài đối luyện hết sức lạ kỳ do 3 đệ tử của võ sư Chu Há trình diễn. Trên sàn đấu, người ta thấy 3 võ sĩ quần nhau túi bụi không phải bằng những thứ binh khí như thường thấy mà bằng chính chiếc điếu cày và ghế đòn dài. Đòn qua thế lại, tiếng ghế và điếu cày nện vào nhau chan chát, bay vù vù, quay loang loáng khiến người xem cứ giật mình thon thót trước những pha ra đòn quá dũng mãnh của các võ sĩ.
Có lẽ do cảm được cái tâm và cái tầm của vị võ sư nhỏ bé này cho nên không chỉ anh em trong giới võ thuật mà cả các vị lãnh đạo trong ngành thể thao đều quý mến nhiều lần đề nghị ông nắm giữ cương vị cao trong liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam nhưng ông đều khiêm tốn từ chối. Năm 1990, ông được Sở Thể dục - Thể thao Hà Nội tín nhiệm cử đi biểu diễn, giảng dạy tại nhiều thành phố thuộc Cộng hòa liên bang Nga và cộng hòa Czech. Chính trong những chuyến đi này ông không chỉ để lại dấu ấn đẹp trong lòng bạn bè quốc tế về nền võ học Việt Nam, mà còn gây dựng được nhiều võ đường trên đất bạn, trong số đó có những võ đường do các học trò người nước ngoài của ông phụ trách cho đến nay vẫn còn tiếp tục hoạt động và phát triển mạnh.

Đối với phong trào trong nước, nhiều đệ tử của ông đã đạt được những thành tích cao trong các kỳ thi đấu trong nước, khu vực và thế giới, điển hình như Duy Kiếm, Hoàng Hải, Nguyễn Phương Lan (hiện là huấn luyện viên trưởng môn Wushu Việt Nam)... Bên cạnh đó, có những người đang là những huấn luyện viên cho lực lượng cảnh sát và Bộ Quốc phòng.

Hiện nay, tuổi đã cao, sức khỏe không còn như xưa nhưng tình yêu võ thuật của ông vẫn còn tha thiết. Ông vẫn ngày ngày say sưa nghiên cứu và truyền dạy lại cho các lớp đệ tử về sau những nét độc đáo của võ phái.