Hiển thị các bài đăng có nhãn binh-dinh-gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn binh-dinh-gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

Bình Định Gia – Một võ phái lớn ở Hà Nội

Cho đến những năm giữa thập kỷ 80, võ phái Bình Định Gia mới được biết đến nhiều như là một môn phái phát triển ở thủ đô Hà nội. Nghệ sĩ ưu tú Trần Hưng Quang sau khi rời nghề tuồng, cùng với sự giúp đỡ đắc lực của con trai là võ sư Trần Hưng Hiệp đã gây dựng phong trào Bình Định Gia ở Hà Nội và nhiều tỉnh phía Bắc.

Cho đến những năm 1995 – 1996 võ phái Bình Định Gia đã có một lực lượng hùng hậu khoảng 30.000 võ sinh tham gia luyện tập nằm rải rác khắp các tỉnh thành miền Bắc.

Quay lại dòng thời gian để hiểu sâu hơn về lịch sử môn phái, ông tổ 4 đời của võ sư trưởng môn Trần Hưng Quang là một võ Hoa tên là Trần Đại Chí (Chen Da Zhi). Ông sang Việt Nam và lưu lạc đến Bình Định vào thời Quang Trung Nguyễn Huệ. Lúc bấy giờ Tây Sơn được biết đến như một vùng đất võ nổi tiếng sản sinh ra người anh hùng Áo vải cờ đào Nguyễn Huệ với những trận chiến “kinh thiên”.

Sẵn trong mình vốn võ học truyền thống Trung Hoa, ông đã tìm hiểu dòng võ Tây Sơn. Sự giao hòa của hai nền võ học đã được ông dày công nghiên cứu và truyền dạy cho các thế hệ con cháu trong gia đình. Trải qua hàng trăm năm sau, tinh hoa của môn võ này mới được truyền dạy ra ngoài.

Là một người có công rất lớn trong việc phát triển phổ biến Bình Định Gia, võ sư Trần Hưng Hiệp lại sớm qua đời ở tuổi 30, để lại bao hoài bão và một sự nghiệp còn dang dở. Võ sư Trần Hưng Quang lại tiếp tục duy trì và phát triển môn phái mà không còn bên mình người con trai, người đệ tử trung thành. Cho đến nay năm nào Bình Định Gia cũng đào tạo, bồi dưỡng nhiều võ sinh tham gia và đạt thành tích cao trong Hội diễn võ thuật Hà Nội cũng như các môn thể thao võ thuật đỉnh cao khác.

Cùng với các môn phái khác, Bình Định Gia đã đóng góp công sức đáng kể vào sự nghiệp phát triển thể dục thể thao Thủ đô và duy trì phát triển truyền thống võ học Việt Nam.

Võ đạo của võ cổ truyền Bình Định

Võ đạo là cái đạo của người học võ, cái đạo của con người sống trong trời, đất, được thể hiện một cách sinh động qua bản sắc văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế-xã hội và cốt cách con nhà võ, cùng với quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu tâm, dưỡng tính gắn với các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng ngay từ lúc sinh ra đến khi nhắm mắt lìa đời.

Hơn thế nữa, võ đạo trong võ cổ truyền Bình Định được hun đúc qua bao đời và trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc, được thể hiện khá rõ nét, cụ thể:

1. Truyền thống thượng võ, chống ngoại xâm

Mỗi con người chúng ta đều gắn liền với quê hương, xứ sở, luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của quê hương, xứ sở mình, và đều mang trong mình dòng máu của cha ông, của dân tộc.

Mỗi khi đất nước có họa ngoại xâm, thì mọi người già trẻ trai gái đều hăng hái tập luyện võ nghệ, sử dụng các loại binh khí, các miếng võ bí truyền và ai có súng dùng súng, ai không có súng thì gươm, giáo, mác, gậy, gộc, đồng lòng chung sức nhất tề đánh đuổi quân thù và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, nhưng khi quân thù bại trận thì dân ta rất mực khoan hồng, độ lượng, hành sự đúng mực trượng phu.

Truyền thống đó được hun đúc qua 4000 năm lịch sử đấu tranh oanh liệt, chống ngoại xâm, chống bất công, áp bức, cường quyền, cùng nhau chung lưng đấu cật, chia ngọt sẻ bùi, đoàn kết xây dựng cuộc sống và bảo tồn giống nòi Lạc Việt.

Từ đó, cho dù ở phương trời nào, chúng ta cũng nhớ về cội nguồn, tổ tiên, luôn tự hào về các bậc tiền nhân đã dày công dựng nước, giữ nước, đánh đuổi quân thù, thu phục giang sơn về một mối, trong đó có các võ quan, võ tướng, các võ sư, võ sĩ đã không tiếc máu xương vun đắp nên truyền thống võ hào hùng của dân tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

2. Truyền thống uống nước nhớ nguồn

Dân tộc ta có truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Nhắc lại chuyện xưa: khi Nguyển Ánh lên ngôi, đã hủy diệt toàn bộ thành quả của nhà Tây Sơn, trong đó có sự nghiệp võ học lẫy lừng của nhà Tây Sơn, nhưng người dân Bình Định, nhất là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhân sĩ, trí thức, các võ sư, võ sĩ, đã một lòng một dạ trung thành với những di sản và tinh hoa võ học chân truyền của nhà Tây Sơn, vẫn tôn thờ vị hoàng đế Quang Trung. Nhiều người khi được dụ hàng để được hưởng ân sủng, chức tước, bổng lộc của nhà Nguyễn, đều từ chối và quyết tâm chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, lưu lại tiếng thơm cho muôn đời sau.

Nhiều nhà thi đỗ tiến sĩ, cử nhân võ nhưng không ra làm quan mà vẫn trung thành với "chủ cũ" đã tìm mọi cách để tập hợp tư liệu, biên soạn lại sách, giáo trình, các bài thiệu, các bài thuốc võ, bí mật truyền bá, lưu truyền cho các thế hệ mai sau, khỏi mất gốc, nhờ vậy, mà võ cổ truyền Bình Định không bị mai một, bế tắc mà còn ăn sâu bén rễ và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống văn hóa của nhân dân Bình Định.

Người Bình Định, từ người có võ công cao cường, đến người hiểu biết võ nghệ chút ít đều luôn một lòng tôn kính giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng võ cổ truyền Bình Định, ra sức truyền bá và bảo tồn võ đạo, võ lý, võ y, võ thuật, võ nhạc và những tinh hoa độc đáo của tổ tiên, tiếp tục truyền lại cho các thế hệ mai sau.

3. Truyền thống võ sĩ đạo và trọng nhân nghĩa

Đây là truyền thống cực kỳ quý báu đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt Nam, trong đó có người dân "đất võ". Trong lĩnh vực võ học, người học võ trước tiên phải là người có bản lĩnh, luôn lấy tâm đạo để chế ngự tà đạo, phải có cốt cách diện mạo của con nhà võ. "Tâm đạo" là nói đến tu luyện tư duy đạo đức làm người, sống phải cao thượng, trung với nước, hiếu với dân. Trung thực với môn phái, truyền dạy những điều hay, việc nghĩa. Một võ sĩ chân chính là một công dân tốt. Còn "Tà đạo" là sự đam mê tửu sắc, dâm ô trụy lạc, rượu chè say sưa, gây lộn đánh người, phá rối xã hội, bất chấp kỷ cương phép nước. Đây là những điều cấm kỵ đối với môn sinh học võ cổ truyền Bình Định. Ngoài ra, người võ sĩ đạo còn phải được truyền thụ thuần thục về tâm pháp và thực hiện nghiêm túc những điều cần làm và cấm làm:

- Phải giữ gìn bản thân luôn trong sáng, thuần khiết.

- Phải chuyên cần tập luyện võ công suốt đời và trung thành với môn phái.

- Phải phát huy và truyền dạy võ công của môn phái theo "chính đạo".

- Không phản thầy, hại bạn, hà hiếp người khác.

- Không khoe mình, chê người.

- Không có tư tưởng thắng thì làm "vua", thua thì làm "giặc".

Khi thâu nhận võ sinh, người thầy bao giờ cũng chú trọng tướng diện, cử chỉ, lời nói, cung cách xử sự, nhân thân, lai lịch của người học trò để truyền dạy hay từ chối không truyền dạy, hoặc chỉ truyền dạy một ít thảo thức thông thường (ngay cả người thân trong dòng họ cũng vậy). Sau khi được thử thách để tuyển chọn, môn sinh phải lễ cúng tổ và được thử thách về sức chịu đựng, sự kiên trì, gan dạ, về đạo đức, tư cách, về sự trung thành với môn phái, tuân thủ môn quy, đặc biệt là sự tôn sư trọng đạo. Lễ cúng tổ được tổ chức trang nghiêm và theo nghi thức võ cổ truyền Bình Định, người thầy đứng lên đọc văn tế ông Tổ nghề võ. Sau khi cúng Tổ, đệ tử làm lễ khởi động tay chân...

Người xưa thường nói: "Đệ tử tầm Sư dị, Sư tầm đệ tử nan" - người muốn học võ, nghe thầy giỏi tìm đến không khó; thầy muốn truyền dạy võ thuật cho đệ tử không phải dễ, bởi lẽ thầy phải "chọn mặt gửi vàng", phải chọn người có đạo đức trong sáng, hành động đúng mực trượng phu.

Mỗi bài tập đều có phần "lễ Tổ" và "bái Tổ". Bái Tổ chính là thể hiện sự tôn kính tổ tiên, môn phái, kính thầy, yêu quý đồng môn. Những người giỏi võ cuộc sống thường rất bình dị, tài võ nghệ chỉ tiềm ẩn bên trong con người giàu lòng vị tha, khiêm tốn, ít khi lộ diện ra bên ngoài. Ngoài ra, họ còn có các đức tính như: Tín-Nghĩa-Hiệp-Dũng, đây chính là tinh thần và mục đích của người võ sĩ đạo chân chính. Chữ "Tín" ở đây muốn nói lên từ cái tâm của con nhà võ, lời nói phải đi đôi với hành động, không đem võ ra "bán" theo dạng võ Sơn Đông. Không hại người, không ỷ mạnh hiếp yếu, luôn bảo tồn võ đạo, uy tín môn đồ, mọi việc đều xử sự một cách trong sáng, chính nghĩa, không làm điều phi nghĩa, thất nhân, thất đức - đó là "nghĩa". Còn "hiệp", "dũng" là những đức tính không thể thiếu được của con nhà võ, luôn sẵn sàng diệt gian, trừ ác, thấy sự bất bình không khoanh tay đứng nhìn.

Hay nói cách khác, ở Bình Định, học võ là để giữ thân, giữ nhà, cứu người, giúp đời khi cần thiết, người có võ công càng cao thì đức tính lại càng khiêm nhường, thường sống ẩn dật, không phô trương, kiêu ngạo, không đánh người "dưới ngựa" hoặc truy thù đến cùng, nhưng một khi đã ra đòn thì phải hạ thủ.

Nói tóm lại, võ đạo chính là đạo đức trong sáng, đức tính cao cả, tâm hồn hỷ xả của con người có võ, người có võ mà thiếu đạo đức thì sẽ trở thành một tai họa không thể lường hết được và sự nguy hại không những cho bản thân, gia đình mà cho cả xã hội nữa.

Chính vì vậy mà võ cổ truyền Bình Định luôn đặt vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc giáo dục, truyền thụ võ đạo lên hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp chấn hưng nền võ học chân truyền, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai góp phần hình thành con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

Theo Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định

Thập thần binh khí Tây Sơn

1. Độc thần kiếm

Là thanh cổ kiếm của Nguyễn Nhạc, tình cờ mua được lúc đi buôn trầu trên thượng nguồn sông Côn. Nguyễn Nhạc đem về tặng cho thầy Trương Văn Hiến. Trương Công biết là một báu kiếm nên đem cất thật kỹ. Khi Nguyễn Nhạc đã xây dựng xong cơ sở chiến đấu, xuống An Thái thăm thầy và vấn kế, Trương Công bèn trao lại thanh gươm để dùng cho đại sự. Gươm dài hơn sải tay, chém sắt như chém chuối; lưỡi gươm ra khỏi vỏ, ánh hào quang tỏa ra loa mắt. Người dân tộc vùng Tây Sơn thượng đạo theo Hỏa thần, tin là thanh kiếm của thần ban cho nhà vua nên gọi là kiếm thần và gọi ông Nhạc là Vua Trời.

Để làm cho lòng người thêm tin tưởng, ông Nhạc bèn bày ra một cảnh tượng kiếm trời cho. Nguyên một hôm, Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ phi nước đại. Đến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt Nguyễn Nhạc té nhào xuống ngựa, trật chân không đứng dậy được. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy để lên ngựa thì Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem thì là một thanh cổ kiếm, lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là kiếm trời ban. Do tích được kiếm của Nguyễn Nhạc tại đây nên núi mang tên là hòn Kiếm Sơn.

Trong ngày khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc lập đàn cáo trời đất tại nghẹo Cây Khế nơi đèo An Khê, dưới bóng 2 cây đại thọ: Cây Ké, Cây Cầy. Khi đại quân đến gần tế đàn thì từ trên cây Ké một con rắn bò xuống, thân lớn bằng cột nhà, sắc đen nhánh như hạt huyền, người đương thời gọi là Ô Long nằm cuộn nơi đường đi. Quân không dám tiến. Nguyễn Nhạc bèn xuống ngựa tuốt gươm, vái cùng trời đất rồi chém bay đầu rắn. Nhờ vậy gươm linh lại thêm lừng lẫy.

2. Song thần côn

Là hai cây côn của hai tướng Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong.

a. Ngân côn

Cây ngân côn của tướng quân Võ Đình Tú màu trắng được rèn bằng bạch thiết, rất chắc và khá nặng, phải đến hai người khiêng.

b. Thiết côn

Cây thiết côn của tướng quân Đặng Xuân Phong màu đen, cũng nặng như cây ngân côn. Ngân côn và thiết côn chỉ lớn bằng cổ tay, dài quá đầu, song lại rất nặng. Khi lâm trận côn múa lên, ngân côn tạo thành một đạo bạch quang, thiết côn tạo nên một luồng hắc quang. Đường côn đi đến đâu, vũ khí của đối phương văng lên tứ phía, thây người ngã rạp như rạ gặp bão.

Vì danh vang khắp nơi nên đích thân nữ tướng Bùi Thị Xuân đã thêu hai lá cờ để tặng "Ngân Côn Tướng Quân" cho Võ Đình Tú và "Thiết Côn Tướng Quân" cho Đặng Xuân Phong.

3. Tam thần đao

Là ba cây đại đao của Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu và Lê Sĩ Hoàng, có tên Ô Long đao, Huỳnh Long đao và Xích Long đao.

a. Ô Long đao

Là tên đao của Nguyễn Huệ. Truyền rằng một hôm Nguyễn Huệ đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa. Để tạo nên một không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin là trong dịp đi tuần này có hai con rắn mun to lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu xà.

Thanh Ô Long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ thì khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang mà chỉ có khí lạnh, đồng thời sắc bén vô cùng. Trọng lượng rất nặng, phải một người vác mới nổi.

Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô Long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hàng trăm người. Đao loan đến đâu vũ khí và đầu người rụng đến đó. Rồi đến năm Kỷ Dậu (1789) lại một lần nữa thanh Ô Long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

b. Hoàng Long Đao

Là thanh đao thần của tướng quân Trần Quang Diệu. Đao thần do sư phụ Trần Quang Diệu là võ sư Diệp Đình Tòng truyền tặng. Sở dĩ có tên Huỳnh Long là vì tại đầu con cù nơi ngậm lưỡi đao được thép vàng. Cặp song đao Ô Long và Huỳnh Long phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm tại Rạch Gầm, Xoài Mút. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh Long góp phần tạo nên.

c. Xích Long Đao

Là thanh đao của tướng Lê Sĩ Hoàng. Sở dĩ có tên là Xích Long đao vì tại đầu con cù ngậm lưỡi đao sơn màu đỏ.Nguyên sau khi dẹp xong quân Mãn Thanh, vua Quang Trung mở hội thi võ để chọn thêm nhân tài giữ nước.

Lê Sĩ Hoàng, người quê Quảng Nam ra kinh ứng thí. Hoàng dũng sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo, chăn trâu cho một Phú ông trong thôn. Nhà gần núi nên một hôm trâu bị cọp bắt. Hoàng sợ chủ bắt đền. Chạy trốn vào núi sâu. Lạc đường không tìm được lối ra, gặp được dị nhân truyền thụ võ nghệ. Lê có sức mạnh hơn người, võ nghệ tuyệt luân, chuyên sử dụng cây đao Xích Long của sư phụ truyền cho.

Năm Quang Trung thứ hai (1789) khoa thi võ đầu tiên tại kinh đô Phú Xuân, Lê Sĩ Hoàng ra ứng thí. Thấy tài năng vượt trội, lại chuyên sử dụng đại đao nên vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu ra tỉ thí. Hai thanh đao Huỳnh Long và Xích Long như đôi rồng hợp nhau múa lượn, người xem vỗ tay hoan hô vang dậy. Hai bên bất phân thắng bại. Vua Quang Trung cao hứng, truyền đem Ô Long Đao ra để tỷ đấu cùng Lê võ sinh. Lê Sĩ Hoàng cung kính quỳ tâu: Với Trần tướng quân, hạ thần còn chưa địch nổi, huống chi bệ hạ. Nhà vua đắc ý, vỗ vai họ Lê, cười nói: Khanh là Hứa Chữ của ta đó! Rồi cởi chiếc cẩm bào đương mặc, ban cho Lê Sĩ Hoàng.

4. Tứ Thần cung

Là bốn cây cung nổi danh thời Tây Sơn: Thiết Thai cung, Vỹ Mao cung, Kỳ Nam cung và Liên Phát cung.

a. Thiết Thai cung

Là cung của tướng Nguyễn Quang Huy, người Phú Yên, thiện dụng cây ngân câu (móc câu bạc) ưa cưỡi bạch mã. Huy có sức mạnh lại giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp, Vua Thái Đức rất ái trọng, phong làm Phòng ngự sứ vào trấn Bình Thuận.

Cây Thiết Thai cung có cánh cung làm bằng thép, có nòng bằng sắt, nên trọng lượng rất nặng, sức bắn xa gấp ba, bốn lần cung thường. Nguyễn Quang Huy trước trấn Bình Thuận, sau bị Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm nên phải lui về thủ Phú Yên. Năm Kỷ Mùi (1799) thành Quy Nhơn bị Nguyễn Phúc Ánh vây hãm, Nguyễn Quang Huy kéo quân ra cứu Quy Nhơn.

Nguyễn Quang Huy đánh rất hăng. Một ngày đánh bại 25 viên tướng của Nguyễn Phúc Ánh. Phúc Ánh lấy làm lạ lên thành đứng xem. Quang Huy tả xung hữu đột giữa muôn quân như Triệu Tử Long ở trận Đương Dương Trường Bản, ngó thấy Nguyễn Phúc Ánh đứng trên thành, bèn dùng Thiết Thai cung bắn trúng cánh tay trái. Phúc Ánh té nhào bất tỉnh. Vì vết thương này mà Nguyễn Phúc Ánh phải rút về Gia Định để dưỡng thương.

b. Vĩ Mao cung

Là cung của văn thần La Xuân Kiều, người huyện Phù Cát, văn thơ Nôm, Hán đều thông suốt. Lại giỏi cưỡi ngựa, bắn cung hay. Họ La có một cây cung đặc biệt làm bằng gỗ quý, dây cung bện bằng lông đuôi ngựa. Khi dây cung bật, một âm thanh trong trẻo du dương phát ra, tên phóng ra rất mạnh. Âm thanh vừa dứt thì đích đã trúng hồng tâm. Nhờ cây Vĩ Mao cung mà La Xuân Kiều nổi danh là một xạ thủ đương thời.

c. Kỳ Nam cung

Là cung của tướng quân Lý Văn Bưu. Cung có một cấu trúc đặc biệt. Giữa nơi cánh cung, chỗ tay cầm có tháp gỗ quý Kỳ Nam. Bởi vậy cho nên khi treo cung nơi phòng thì hương trầm thơm ngát khắp nhà. Lúc dùng nơi trận địa, hương trầm làm tăng nội lực nên Lý Văn Bưu bắn trăm phát trăm trúng. Càng bắn nội lực càng tăng, tên càng trúng đích.

Lúc còn đang xây dựng cơ sở cho nhà Tây Sơn, tại dãy núi Ninh Thuận, huyện Tây Sơn bây giờ, có một con cọp tàu cau, to lớn như con trâu mộng, rất hung dữ và lại tinh khôn, thường hay xuống bắt bò heo và luôn cả người nữa. Lúc đầu thì hổ đi săn bắt ban đêm, sau lại phá phách luôn cả ban ngày. Chẳng những có sức mạnh mà da hổ lại quá dày, cứng đến độ giáo mác dâm không lủng. Dân làng thuê đám thợ săn cọp và các võ sĩ có danh để trừ hổ, song tất cả đều thất bại. Lớp chết lớp trọng thương.

Lý Văn Bưu được tin, mang cung Kỳ Nam tìm vào rừng sâu để diệt trừ hổ dữ. Gặp được hổ, họ Lý trương Kỳ Nam cung bắn một phát vào đầu cọp. Tên xuyên từ mắt phải ra đến sau ót. Cọp còn hăng sức xông đến. Lý Văn Bưu tiếp liền hai phát. Tuy da hổ cứng rắn song tên vẫn xuyên ngang cuống họng và yết hầu. Cọp giãy giụa một hồi lâu mới chết. Trong các trận Nam chiến, đánh nhau với quân Xiêm và Bắc chiến với quân Mãn Thanh, cây Kỳ Nam cung cũng đã ra sức giúp Lý Văn Bưu lập được nhiều chiến công.

d. Liên Phát cung

Là cung thần của Đặng Xuân Phong. Cánh cung làm bằng thép có độ cứng và đàn hồi cao nên sức bật rất mạnh. Nhờ ở sức mạnh và tài luyện tập, Đặng Xuân Phong có thể bắn một lần 5 mũi tên và bắn liên tiếp.

Một hôm, Bùi Thị Xuân đứng ở trường trầu Kiên Mỹ, trông thấy một tráng sĩ trẻ tuổi cầm côn đồng, mang cung sắt, cưỡi ngựa ô, từ hướng làng Thuận Nghĩa chạy lên Phú Lạc, thái độ hiên ngang nhưng tướng mạo trung hậu. Đến hòn Trưng Sơn, tráng sĩ phi ngựa lên núi. Đường sá gập ghềnh nhưng ngựa chạy như trên bình địa.

Một bầy quạ bay ngang qua, tráng sĩ gương cung bắn hai phát: hai con quạ rơi xuống. Tiếp theo 5 phát nữa: lại 5 con rơi như lá rụng. Biết là người có tài, bà Bùi Thị Xuân sau khi thăm dò gốc tích, đã cùng với Võ Đình Tú đến tận làng Dõng Hòa kết bạn và mời tham gia đại sứ, xây dựng nhà Tây Sơn.

Ngoài Tây Sơn thập thần vũ khí, Bình Định còn có thanh đại đao của tướng Lê Đại Cang. Cây đao nổi tiếng đã từng giúp cho Lê tướng công dẹp yên giặc Miên bình định Trấn Tây Thành

Ngọc trản ngân đài

Tả hữu tấn khai, hồi thập tự

Uyển diệp liên ba đả sát tức, toạ hồi mai phục

Tấn đả tam chiến thoái thủ nhị linh.

Câu thơ trên sẽ không mang ý nghĩa gì nếu không được gắn vào các thế võ, và cũng chỉ những người luyện tập võ cổ truyền mới hiểu hết những gì đang ẩn dấu bên trong từng lời thơ. Đó là bốn câu đầu trong lời thiệu của bài quyển Ngọc Trản-một bài quyền của người Việt có từ xa xưa, và hiện đang được nhiều môn phái võ cổ truyền, trong đó có phái Bình Định gia sử dụng như một bài tập căn bản.

Ngược dòng thời gian về những ngày đầu dựng nước, dân tộc Việt luôn phải học hỏi và tự rèn cho mình khả năng chiến đấu để tồn tại giữa môi trường thiên nhiên và chính trị đầy khắc nghiệt. Bên cạnh việc củng cố hành chính và quân sự, người Việt còn chú trọng tới khả năng chiến đấu cá nhân bằng tay không hoặc dùng binh khí, ở đây được hiểu chính là võ thuật. Có thể phân loại võ cổ truyền Việt Nam thành bốn nhóm chính bao gốm nhóm các võ phái Bắc Hà, Bình Định, Nam Bộ và các võ phái gốc Trung Hoa. Nếu như Vắc Hà nổi tiếng với các môn vật cổ truyền thì ở dải đất miền Trung, võ Bình Định là một minh chứng cho quá trình tiếp thu tinh hoa võ học bên ngoài và phát triển theo phương thức đặc thù. Trong ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, thì người anh hung áo vải của đất Tây Sơn-Nguyễn Huệ-được đời sau nhắc tới nhiều hơn cả với môn Nghiêm Thương, Tứ Môn Côn và Tứ Môn Kiếm-những môn võ sử dụng binh khí rất đặc thù.

Tuy nhiên võ Bình Định không bó hẹp trong một vùng, một môn phái và chia rộng thành nhiều chi phái như Võ Tây Sơn hoặc còn gọi là Roi Thuận truyền, nổi danh với võ sư Hồ Ngạnh, sau này đã trở thành thầy võ của triều đình nhà Nguyễn. Bên cạnh đó còn các chi phái khác như võ phái An Thái, An Vinh, Tây sơn nhan, võ nhà chùa, Thanh long võ đạo. Sa long cương...Hầu như bất kỳ ai khi nói tới miền đất này đều biết tới hình ảnh của những cô gái Bình Định mùa roi, đi quyền mà niềm tự hào của họ chính là nữ tướng Bùi Thị Xuân nổi tiếng với môn Tam bộ Tuyết hoa Song kiếm và Song phượng kiếm.

Ngày nay, các võ đường của võ Bình Định mở trên khắp cả nước, trong đó Bình Định gia là môn võ cổ truyền chính thức được công nhận tại khu vực phía Bắc. Giới võ thuật miền Bắc biết tới lão võ sư Trần Hưng Quang với chức danh trưởng môn phái, song ít ai biết là ở tuổi 75, ông vẫn đang trực tiếp chỉ dậy các lớp học trò trên võ đường tại khu Thanh Xuân Bắc-Hà Nội. Hơn 30.000 môn sinh đã thụ nghiệp, luyện tập và cống hiến cho cuộc đời với 5 điều môn quy thấm nhuần tính thiện: "Một lòng kính thầy trọng đạo, coi đồng môn như ruột thịt..."

Hơn 2000 năm qua, người Việt Nam đã hấp thu được các nét tinh tuý trong nền võ học lừng danh thế giới của Trung Hoa và Tây Tạng. Tại Việt Nam, các môn phái võ Trung Hoa đã được tiếp nhận, song song tồn tại và cùng tương tác tới nền võ học bản địa. Khó có thể nói một cách rõ ràng, môn võ nào còn giữ nguyên vẹn hình thể gốc gác ban đầu, bởi"phát triển" tất yếu gắn liền với "biến đổi". Người Việt đã biết cách giản lược và chế tác thêm vào những đường nét võ của riêng mình cho phù hợp với thể trạng và tâm lý dân tộc. Nếu như những môn võ gốc Trung Hoa hoặc chuyên về dương cương, sử dụng sức mạnh, hoặc thuần về âm nhu, thiên về sự mềm mại, thì khi vào tới Việt Nam, đều được trưng hoà theo chiều hướng thuần hậu, lấy chế ngự đối thủ làm mục đích, dùng trí thay cho dùng lực. Minh chứng cho vấn đề này chính là môn phái Vovinam, vốn được sáng lập bởi cố võ sư Nguyễn Lộc vào những năm 30 và chính thức ra mắt năm 1939. Đây là một hệ thống các chiêu thức sáng tạo từ vật kết hợp cùng võ cổ truyền, chú trọng tới các đòn thế căn bản như tấn, quyền, cước, chém, gạt...Trong giai đoạn 1960-1975, Vovinam đã được truyền bá khắp đất nước, đặc biệt tại miền Nam.

Điều đặc biệt nhất trong các bài võ cổ truyền Việt Nam là các bài thiệu viết bằng chữ nôm gắn liền với từng đường nét võ. Đây là điểm khác biệt căn bản so với võ du nhập từ nước ngoài, bởi võ Trung Quốc hoặc Tây Tạng không có lời thiệu bằng thơ, mà chỉ có tên đòn thế, chiêu thức.

Về chiều sâu, võ học dựa trên căn bản nguyên lý triết học phương Đông như âm dương, bát quái, ngũ hành...để phát triển lý thuyết nội ngoại công. Tương tự như Trung Hoa, nhiều môn phái võ cổ Việt Nam thường sử dụng hình tượng của các loài thú để xây dựng quyền pháp. Từ những bước nhẩy, bắt môi, vồ dũng mãnh củ hổ, từ sự nhanh nhẹn của loài khỉ, từ các cú mổ của mãng xà...võ cổ truyền đã cho ra đời môn Hổ quyền, Hầu quyền, Xà quyền...Những ai học Thiếu lâm tất sẽ biết Ngũ hình quyền là hệ thống các bài quyền Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc...song bên cạnh đó, võ Nhất Nam do võ sư trưởng môn phái Ngô Xuân Bính lập nên năm 1983 lại thiên về các đường quyền lắt léo của loài trăn. Môn võ này có phương châm là né tránh, đánh nhanh, đòn hiểm và hiệu quả cao. Thời cực thịnh của Nhất Nam đã từng có hơn 5.000 môn sinh trên cả nước, song hiện giờ phong trào không còn được phát triển như xưa nữa.

Việc gia nhập môn phái võ cổ truyền nay không còn khó khăn như xưa. Trước kia, chúng ta thường nghe chuyện môn đồ xuất gia, tu hành trên núi cao, rừng sâu, và phải từ bỏ mọi vòng danh lợi...Giờ đây, thanh thiếu niên có thể lựa chọn dễ dàng một môn phái nào đó và tập luyện ngay tại các trung tâm thể thao, câu lạc bộ.

Huyền thoại một võ sư

Võ sư Phan Thọ là bậc thầy lừng danh “có bộ tay hay nhất Bình Định”, một trong số ít người còn bảo lưu được trọn vẹn Nhị thập tứ chi (24 món binh khí) của môn phái võ Tây Sơn cổ truyền, và là người nắm được những tinh hoa của môn võ này

30 năm... làm học trò!

Sau một hồi vòng vèo trong con đường làng của thôn Thủ Thiện Thượng, xã Bình Nghi, Tây Sơn, đúng gia tria chúng tôi có mặt tại nhà võ sư. Ông đang có khách và rôm rả bàn chuyện ông phó giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Bình Định vừa tìm ông về vấn đề thực hiện 18 môn binh khí cổ truyền Việt Nam nhằm làm tư liệu để bảo tồn. Ông cười khà khà, tiếng sang sảng như chuông vỡ: “Đã tìm đến đây thì không cần biết nam hay nữ, nhất là nhà báo thì phải cạn một chung rượu rồi mới nói chuyện võ nghệ sau”. Nói đoạn ông xoay sang bảo đệ tử (người Bắc Giang - mê võ tìm vào theo ông học và ngụ tại nhà ông luyện tập) bê cái hũ rượu ra. Rượu Bầu là thổ sản lại ngâm thuốc giúp người luyện võ mạnh gân cốt. Tay nâng ly rượu đầy kề vào miệng, tôi liếc mắt nhìn ông, võ sư đã 80 tuổi rồi mà còn khỏe mạnh và minh mẫn quá. Trong tích tắc, cuộc trò chuyện giữa tôi và ông trở nên sôi nổi và thân mật hơn khi ông biết tôi là kẻ ngoại đạo nhưng rất mê võ thuật. Ông kể chuyện võ nghệ một cách say sưa, còn tôi thì cứ tròn mắt trầm-trồ. Có lẽ ông là người hiếm có trong chốn võ lâm thời bấy giờ: đã bỏ ra 30 năm chỉ để làm... học trò! Năm l5 tuổi, ông tìm đến An Vinh để theo học võ thầy Cai Bảy (Bảy Lụt), sau 5 năm học quyền thuật tại đây, ông tiếp tục tìm đến võ sư Diệp Trường Phát (Tàu Sáu) để học kiếm pháp. Sau đó, ông lại tìm đến võ sư Hồ Ngạnh để học côn. Lúc bấy giờ, hễ ai xưng danh là đệ tử của một trong ba vị võ sư đó cũng đủ khiến thiên hạ nghiêng mình kính cẩn. Ấy vậy mà ông lại là học trò yêu của cả ba. Chuyện tầm sư học đạo của ông cũng lắm nỗi gian truân, và ông không bao giờ quên được lúc ông nài nỉ song thân của mình bán bớt hai con bò để làm lễ vật bái tổ và trả ơn cho thầy... Sự đam mê và khả năng lĩnh hội võ thuật của ông khiến các sư phụ rất thương và dốc lòng truyền thụ võ công. Khi các vị sư phụ tạ thế, ông nghiễm nhiên trở thành một vị vua không ngai trong làng võ Bình Định, dù chưa biểu diễn hay thi thố võ học lấy một lần nào cả!

Song đấu heo rừng

Cho đến một ngày nọ khi ông một thân một mình với cây gậy mà hạ thủ được gã lợn rừng độc khổng lồ nặng non một tạ rưỡi, đã húc trọng thương hàng chục võ sĩ có vũ khí trong vùng, thì người dân ở đây mới thấy được võ thuật tuyệt luân của ông. Ai nấy cũng đều trầm trồ: 30 năm tôi luyện chẳng bõ công- ông kể: ''Chuyện giết heo rừng là thế này. Hồi 9 năm kháng chiến. Có một con heo rừng hung dữ ra làm tổ trong đám mía tại núi Chà Rây -thôn 3 – Bình Nghi. Nó đã làm bị thương 3 anh em đi thăm mía. Tui nghe dân nói lại. Hôm ấy, mọi người kéo nhau đến nơi nó làm tổ, người thì đông, cây gậy thì nhiều nhưng không ai dám đánh heo, bởi nó hụt một cái thì y như bom thả, đố ai dám liều! Thế là tui đi. Dân làng đứng vây ngoài này cả một hec ta. Tui thì chỉ cuốc chỉa, vồ và một gốc tre khô. Tui tiến vào cứ la ''heo heo” ba lần rồi chạy vụt ra, ''ổng'' nghe tiếng thế là vùng chạy ào ra.

Vũ khí gãy, dân làng tiếp vũ khí. Quần nhau với nó cả tiếng đồng hồ chứ chẳng ít. Nó chết, 6 người khiêng mới nổi. ''Chiến lợi phẩm'' tui thu được trong trận quần thảo đó là cặp nanh của nó. Tới giờ này tui vẫn còn giữ làm kỷ vật đấy!''. Và ông lục trong tủ lôi ra cho tôi xem 2 cái nanh heo rừng: l nanh cái dài gần nửa gang tay và l nanh cấm.

Ba lần hạ gục võ sĩ Hàn Quốc.

Với võ sĩ Bốn Thọ, kỷ niệm sâu đậm nhất trong nghiệp võ, mà cũng là một huyền thoại để người ta truyền miệng với nhau về ông, đó là trận đánh sinh tử với thiếu tá Kim, huyền đai ngũ đẳng Taekwondo vào năm 1970. Một trận đấu ''vô tiền khoáng hậu'' một bên: 1,80m -75 kg và bên kia l,60m - 65 kg. Trận đánh ấy xảy ra là do nó đụng chạm đến tự ái dân tộc. Tên này đóng quân gần Bình Nghi và cậy thế mình giỏi võ Taekwondo nên đã thách đấu, hễ ai thắng thì có thưởng, ông ghét quá, thế là thượng đài, chơi liền. Dự định đánh trong vòng 10 hiệp. Nhưng chỉ mới ở hiệp thứ 3, bằng tuyệt chiêu ''Độc xà thám nguyệt”, ông đã đưa hắn vào... bệnh viện.

Lần thứ hai, ông thi đấu với võ sĩ Đại Hàn vào năm 46 tuổi. Nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương tổ chức tại Pleiku, các sĩ quan Đại Hàn đã đưa một số võ sinh theo học Taekwondo từ Sài Gòn lên Pleiku để tham gia thi đấu võ đài. Sau đó, đoàn võ cổ truyền Tây Sơn có 20 võ sĩ, do võ sư Hà Trọng Sơn dẫn đầu cũng được mời lên tham gia. Võ sĩ của ta đã chiến thắng trước các võ sĩ Hàn. Sau cùng, viên sĩ quan trưởng đoàn Đại Hàn có một tên tùy tùng tên Joo đã đứng ra thách đấu với các võ sĩ đoàn Bình Định. Mọi người nhìn thấy hắn cao to, lại huyền đai ngũ đẳng Taekwondo nên đâm ra ''ngán”. Thấy vậy, hắn cứ dương dương tự đắc, coi thường tất cả. Ông sôi máu, tức khí, thế là ''vọt” lên sàn đấu. Nào, Một... Hai... Ba... Cái cặp giò của nó tung ra những cú đá vun vút, thoạt nhìn, trông ghê gớm lắm. Ông lựa thế, bất ngờ dùng Độc xà thám nguyệt,... Bị trúng vào hạ bộ, nó té nhào xuống sàn và trật khớp tay...Vậy là xin hòa chứ không dám xin đấu nữa.

Còn trận thứ ba vào năm 1998. Ông kể: Hôm ấy ngay tại sân nhà. Đoàn võ sĩ Hàn Quốc qua tìm hiểu võ Việt Nam, gồm 2 nam 2 nữ và ăn Tết ở Việt Nam tại Sở Thể dục thể thao. Họ tìm đến thăm tui và đòi xem tui múa võ. Một tay rất trẻ xem xong đã nhất quyết đòi đánh võ với tui ngay. Tui già rồi, chẳng màng gì chuyện hơn thua. Họ tự cao rằng, võ cổ truyền gì mà chưa đánh đã thua. Thế là tui nổi máu yêng hùng. Đánh thì đánh chứ ngán gì! Tay này cao hơn tui 2 gang tay, nặng hơn tui rất nhiều, ''chơi'' Teakwondo, còn tui ''chơi” võ Tây Sơn-đặc sản quê nhà. Vừa vô chiêu, cậu ta tung chân đá tui ngay một cú, tui né được và bảo rằng: ''Mi đá thì phải ngó thẳng địch thủ mà đá chớ!''. Cậu ta lại tung cú đá thứ 2, tui cũng né được, nhưng cú đá ấy lại đạp trúng hai cái trụ vôi của nhà bị nứt ngay, cái nhà rung rinh theo cú đá của hắn. Tui nghĩ cậu ta là khách tới thăm cái xứ ''khỉ ho cò gáy”, của mình, thế thì đáng quý lắm chứ, cho nên mình phải ''kỷ niệm'' lại cho khách quý một thứ gì chứ. Ấy vậy là tui khích ''Đánh dở mà qua Việt Nam làm gì. Nào đá thiệt mạnh vô...”. Hắn tức khí, thế là cậu chàng tung cả hai chân lên, tui chỉ ''khẽ'' gạt tay... té huỵch. Những cu cậu không phục, đòi đánh nữa. Ai dè bị tui dùng độc chiêu Độc xà thám nguyệt hạ gục. Sau cú bị đánh trúng hạ bộ cậu ta té xuống đất té ngửa, đầu đập trúng miếng đá cạnh chuồng bò, bị chảy máu đầu ... Sau khi thua, cậu ta phục và quyết tâm ở lại học võ hai tuần với tui.

Hồi phục phong độ!

Sau câu chuyện, ông mặc võ phục và biểu diễn vài chiêu cô vũ khí cho chúng tôi xem. Trước cơn mưa bụi, trong sân nhà, ông thật uy nghi trong bộ võ phục đen và cây thanh long đao trên tay. Những đường đao lả lướt nhưng thật dũng mãnh vùn vụt qua nhanh trước mất, tôi căng mắt nhìn từng đường biểu diễn của ông. Ông còn sung sức quá, cổ tay ông cứ xoay xoay làm chiếc roi xoay theo nghe rõ cả tiếng roi vun vút trong không khí. Tôi xem mãi không chán.

Nghiệp võ đối với võ sư Phan Thọ là trách nhiệm truyền lại cho thế hệ mai sau những gì mà ông tiếp thu từ kho tàng võ thuật bao la đã được đúc kết từ bao đời. Học trò của ông đã lắm người nổi tiếng, đoạt giải thưởng quốc gia, nhưng rồi vì lý do này nọ nên không hiếm người giải nghệ. Ông thực sự mong muốn có một truyền nhân đích thực để bảo lưu được 24 bộ môn binh khí của võ cổ truyền. Tuổi ngày càng cao, nỗi lo thất truyền võ học vẫn còn canh cánh mãi bên lòng huyền thoại sống của làng võ Bình Định. Ông chép miệng ''Ngày xưa, tui chịu cực chịu khổ học võ cả mấy mươi năm trời chỉ mong học cho được nghề tổ. Bây giờ, tụi nó sướng hơn nhiều, học chỉ vài ba năm, vậy mà ...''.

Theo Khoa học và Đời sống